I. LĨNH VỰC CHẤT LƯỢNG, AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
1. Các tiêu chuẩn quốc gia về an toàn thực phẩm liên quan đến nông sản hiện nay gồm những tiêu chuẩn nào? Thực trạng mất an toàn thực phẩm có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là chất lượng của nguồn nguyên liệu đầu. Hiện nhiều nguyên liệu đầu vào sử dụng quá định mức cho phép thuốc trừ sâu, phân bón, thức ăn chăn nuôi chứa chất độc hại,… làm giảm chất lượng rau củ, thịt động vật. Bên cạnh đó không thể không kể tới tình trạng kinh doanh thực phẩm bẩn, kém chất lượng, nguyên liệu không rõ ràng đang diễn biến phức tạp. Hậu quả là ngày càng nhiều người bị ngộ độc thực phẩm. Do đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm vào các quy trình trong hệ thống sản xuất, cung ứng, vận chuyển,… các sản phẩm thực phẩm có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Nói cách khác, những tiêu chuẩn này sẽ giúp đảm bảo an toàn thực phẩm, từ đó mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng cũng như đơn vị kinh doanh. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, nhất là trong lĩnh vực quản lý nông sản là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng sản phẩm nông sản luôn đáp ứng yêu cầu của thị trường. Vậy, đâu là các tiêu chuẩn mà các doanh nghiệp có thể áp dụng cho sản phẩm nông sản của mình? Đó là Tiêu chuẩn ISO 22000:2005, Tiêu chuẩn HACCP, Tiêu chuẩn FSSC 22000, Tiêu chuẩn GMP, Tiêu chuẩn BRC. (Báo Dân Việt ngày 08/12)
2. Nâng cao chất lượng sản phẩm cung ứng qua chuỗi thực phẩm an toàn: Trước yêu cầu sử dụng thực phẩm sạch của người tiêu dùng và yêu cầu khắt khe về kiểm dịch, an toàn thực phẩm (ATTP), hầu hết các địa phương, các HTX đều đề cao việc xây dựng và quản lý các chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn; nhưng để quản lý hiệu quả cần có sự liên kết sản xuất bền vững theo chuỗi và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Thực tế cho thấy, thời gian qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã và đang triển khai tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết các thành viên trong chuỗi cung ứng, gắn sản xuất nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi, kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu. Tuy nhiên, chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu Việt Nam hiện đang có một số hạn chế (quy mô nông hộ nhỏ; cấu trúc chuỗi cung ứng mang nặng tính tự phát và thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên; nông sản cùng loại thường không đồng nhất về chất lượng, kích cỡ, hình dáng, trọng lượng và tính ATTP bởi có sự tham gia của số lượng rất đông các hộ nông dân với trình độ sản xuất, ý thức kinh doanh và nhận biết về thị trường rất khác nhau; công nghệ chế biến sau thu hoạch khá lạc hậu, trang thiết bị cũ kỹ, sản phẩm sơ chế còn nhiều tạp chất; công nghệ bảo quản còn hạn chế nên chất lượng không đồng đều, khó kiểm soát; tổn thất trong quá trình thu hoạch, chế biến, lưu trữ và vận chuyển trong chuỗi cung ứng xuất khẩu nông sản Việt Nam khá lớn; chứng chỉ chất lượng Việt Nam hiện nay chưa được công nhận trên thị trường quốc tế). Do đó, để bảo đảm sự bền vững trong chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu, cần hoàn thiện và công bố quy hoạch các vùng nuôi trồng theo từng nhóm hàng đặc trưng trên từng địa bàn. Khuyến khích các hộ sản xuất tham gia các vùng được quy hoạch thông qua hoạt động đầu tư vốn, hỗ trợ thực hiện chuyển đổi giống, kỹ thuật và công nghệ nhằm tăng năng suất, đạt hiệu quả cao; đăng ký chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; thực hiện đăng ký chỉ dẫn địa lý, bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho từng khu vực sản xuất nhằm hạn chế gian lận về nguồn gốc xuất xứ; giám sát quá trình sản xuất, tiến tới thực hiện các chứng nhận sản phẩm bền vững đạt tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển các các mô hình liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân theo chuỗi giá trị, phát triển vùng nguyên liệu ổn định gắn với cơ sở chế biến và tiêu thụ sản phẩm; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, tăng cường hệ thống thông tin về thị trường, khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật mới cho các hộ nuôi trồng, chế biến và các doanh nghiệp xuất khẩu; tạo lập và tăng cường liên kết các thành viên trong chuỗi cung ứng sản phẩm nông sản xuất khẩu cùng vận hành và phát triển bền vững; đặc biệt, cần chú trọng xây dựng thương hiệu cho nông sản. (Báo Dân Việt ngày 09/12)
3. Đồng Nai - Xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp an toàn và bền vững: Ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đã tích cực triển khai các chính sách hỗ trợ nông sản đạt Chứng nhận Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP), tập trung xây dựng các vùng sản xuất sạch và nhân rộng chuỗi an toàn thực phẩm, thực hiện kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm, triển khai chuỗi truy xuất nguồn gốc. Công tác đánh giá, cấp giấy chứng nhận điều kiện chăn nuôi và bảo vệ môi trường cũng được thực hiện thường xuyên. Công tác quản lý ATTP đã có sự phân cấp rõ rệt, huy động tốt nguồn lực cấp huyện và xã. Việc kiểm tra và xử lý vi phạm ngày càng bài bản, giúp cải thiện điều kiện sản xuất và cung cấp thêm thông tin nhận diện sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Ngành nông nghiệp Đồng Nai đang từng bước khẳng định vai trò trong việc xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, an toàn và bền vững. (Báo Tuổi trẻ ngày 09/12)
4. Tháng 11, Việt Nam xuất khẩu được gần 16 nghìn tấn hồ tiêu các loại: Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, trong tháng 11, Việt Nam xuất khẩu được 15.948 tấn hồ tiêu các loại, với tổng kim ngạch đạt 106,5 triệu USD. Lũy kế 11 tháng 2024, Việt Nam đã xuất khẩu được 235.335 tấn hồ tiêu các loại, trong đó tiêu đen đạt 207.498 tấn, tiêu trắng đạt 27.837 tấn. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,22 tỷ USD. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam đạt 67.802 tấn, tăng 41,1% và chiếm 28,8% tổng lượng xuất khẩu của hồ tiêu Việt Nam. Tiếp theo là các thị trường: UAE tăng 42,7% chiếm 6,6%; Đức tăng 67,7% chiếm 6,0%. Nhiều thị trường có tăng trưởng xuất khẩu với mức hai con số như Hà Lan (41,8%), Hàn Quốc (34,8%), Pakistan (34,5%), Canada (19,7%), Nga (15,5%), Anh (14%)… (Tạp chí Thương hiệu và công luận ngày 10/12)
5. Chấn chỉnh công tác cấp giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác: Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 127/CĐ-TTg chấn chỉnh công tác cấp giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác, giấy chứng nhận thủy sản khai thác tại các địa phương. Theo đó, yêu cầu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT tăng cường hướng dẫn, đào tạo, tập huấn để các địa phương triển khai thực hiện đúng các quy định pháp luật trong công tác cấp giấy SC, giấy CC đối với sản phẩm thủy sản khai thác. Hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên, kịp thời chấn chỉnh các hiện tượng cấp giấy SC, giấy CC đối với sản phẩm thủy sản khai thác chưa đúng với quy định pháp luật hiện hành hoặc cố tình hiểu sai, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp hồ sơ, tài liệu không được quy định tại Thông tư số 21 và Thông tư số 01, gây khó khăn trong việc cấp giấy SC, giấy CC phục vụ xuất khẩu thủy sản. Rà soát lại toàn bộ các quy định liên quan đến hoạt động tổ chức, cấp giấy SC, cấp giấy CC; sửa đổi những quy định chưa phù hợp, gây khó khăn, cản trở đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực khai thác, chế biến và xuất khẩu hải sản; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung những nội dung vượt thẩm quyền. (Báo Bình Thuận ngày 11/12)
6. Xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt kỷ lục, về đích sớm sau 11 tháng: Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 11/2024 ước đạt 5,3 tỷ USD, tăng 13,9% so với tháng 11 năm 2023; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 11 tháng đầu năm 2024 đạt 56,74 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 29,78 tỷ USD, tăng 23,2%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 9,2 tỷ USD, tăng 11,8%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 15,59 tỷ USD, tăng 19,6%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 475,5 triệu USD, tăng 4,4%. Như vậy, ngành nông nghiệp đã “về đích” sớm mục tiêu giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 55-56 triệu USD năm 2024. (Vietnamplus ngày 11/12)
7. Nên chọn loại gạo nào để xây dựng thương hiệu gạo quốc gia? Việt Nam có nhiều giống gạo ngon nhưng cho đến nay vẫn chưa có thương hiệu gạo quốc gia. Tại cuộc thi gạo ngon nhất thế giới, liên tục trong các năm qua gạo Việt đều lọt vào top 3, trong đó gạo ST25 đã 2 lần trở thành loại gạo ngon nhất thế giới. Ấn Độ tập trung cho giống Basmati, Thái Lan có Hom Mali, Nhật Bản có gạo Japonica..., nghĩa là họ tập trung cho một giống xây dựng thương hiệu quốc gia, vậy Việt Nam nên chọn loại gạo nào? Việc xây dựng thương hiệu gạo quốc gia và đưa thương hiệu gạo quốc gia của Việt Nam trở nên quen thuộc và trở thành lựa chọn hàng đầu cho người tiêu dùng trên khắp thế giới vừa là ước mơ, vừa là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý, địa phương, các doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, việc ban hành quy chế sử dụng nhãn hiệu gạo Việt Nam đang có những vướng mắc liên quan đến việc đăng ký các thủ tục mang tính chất pháp lý. (Báo Sức khỏe đời sống ngày 11/12)
8. Phối hợp nâng chất lượng, an toàn thực phẩm cho nông sản: Thời gian qua, TP Cần Thơ tích cực phối hợp với Bộ NN&PTNT triển khai thực hiện Chương trình phối hợp số 05/CTPH-BNNPTNT-UBND ngày 25/7/2022 của Bộ NN&PTNT và UBND TP Cần Thơ về đảm bảo ATTP và nâng cao chất lượng nông lâm thủy sản giao thương giữa TP Cần Thơ và các tỉnh, thành phố giai đoạn 2022-2025. Qua gần 3 năm thực hiện chương trình, việc kiểm soát ATTP và nâng cao chất lượng các loại NLTS, giao thương giữa TP Cần Thơ với nhiều địa phương trong nước được tăng cường, mang lại hiệu quả thiết thực. Từ năm 2022 đến năm 2023, TP Cần Thơ đã ký kết hợp tác về giao thương, đảm bảo ATTP và nâng cao chất lượng NLTS với 16 tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có các thành phố lớn như TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Hà Nam, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế. Hiện tất cả các tỉnh vùng ĐBSCL (trừ Cà Mau) đều đã ký kết hợp tác về giao thương, đảm bảo ATTP và nâng cao chất lượng NLTS. Việc thực hiện liên kết hợp tác giữa các địa phương đã góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, đảm bảo ATTP cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đồng thời, công tác phối hợp và hợp tác, liên kết sản xuất, giao thương, tiêu thụ sản phẩm giữa các địa phương được đẩy mạnh tạo thuận lợi cho nhiều nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp tại TP Cần Thơ và vùng ĐBSCL trong tiêu thụ các loại NLTS và sản phẩm OCOP. (Báo Cần Thơ ngày 12/12)
9. Vietnam Coffee xuất khẩu lô hàng đầu tiên: Lô sản phẩm cà phê chế biến sâu đầu tiên được Vietnam Coffee xuất khẩu sang Trung Quốc vào đầu tháng 12. Các sản phẩm cà phê chế biến sâu của Vietnam Coffee, thương hiệu chủ lực của Tổng Công ty Cà phê Việt Nam (Vinacafe), được sản xuất từ những hạt cà phê sạch, tuyển chọn kỹ lưỡng tại Tây Nguyên, vùng nguyên liệu nổi tiếng của Việt Nam. Sự kiện xuất khẩu lần này không chỉ là một hoạt động thương mại mà còn là bước tiến chiến lược, minh chứng cho năng lực cạnh tranh và khả năng đáp ứng của Vietnam Coffee đối với tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế. (Trang tin Vnexpress ngày 12/12)
10. Nâng hiệu quả quản lý thực phẩm nhờ truy xuất nguồn gốc: Thời gian qua, Chính phủ ban hành nhiều quy định liên quan việc áp dụng truy xuất nguồn gốc trong sản xuất và thương mại hàng hóa. Các tiêu chuẩn quốc tế như GS1, ISO 22005 đang trở thành thước đo chung để đánh giá khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Việc ứng dụng công nghệ vào truy xuất nguồn gốc thực phẩm đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm vấn đề an toàn thực phẩm. giải pháp truy xuất nguồn gốc thông qua mã QR và hệ thống phần mềm được áp dụng xuyên suốt từ khâu sản xuất, chế biến đến tiếp thị và phân phối, đang trở thành một yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ sản phẩm, hàng hóa khỏi vấn nạn hàng giả, hàng nhái. (Báo mới ngày 13/12)
II. LĨNH VỰC CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN
1. Việt Nam đang là nguồn cung cá ngừ đóng hộp lớn thứ 2 cho thị trường Mỹ: Xuất khẩu cá ngừ đóng hộp của Việt Nam sang Mỹ sau một thời gian sụt giảm, đã tăng trở lại trong tháng 10. Tại thị trường Mỹ, Việt Nam đang là nguồn cung cá ngừ đóng hộp lớn thứ 2, chiếm hơn 17% tổng khối lượng nhập khẩu của nước này. Hiện Mỹ đang là thị trường nhập khẩu nhiều nhất cá ngừ đóng hộp của Việt Nam trong nhiều năm qua, chiếm 36% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm sản phẩm này. Việt Nam đã vượt qua Mexico trở thành nguồn cung cá ngừ đóng hộp lớn thứ 2 cho nước này sau Thái Lan, chiếm 12% tổng khối lượng nhập khẩu. (Tạp chí Doanh nghiệp và Tiếp thị ngày 11/12)
2. Rộng cửa cho nông sản ĐBSCL xuất khẩu từ tiến bộ kỹ thuật: Những tiến bộ kỹ thuật về chế biến, tồn trữ nông sản có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động sản xuất, xuất khẩu. Thời gian gần đây, một tiến bộ kỹ thuật rất đặc biệt - trái cây đông lạnh có thể nói đã tạo ra cơ hội lớn cho việc tiêu thụ các nông sản có giá trị. “Với tiến bộ kỹ thuật này, chúng ta có thể tăng cường khâu bảo quản, chế biến, kiểm tra chất lượng, làm chủ hàng hóa ngay từ chân hàng. Điều này làm cho chất lượng, giá trị hàng hóa xuất khẩu trong tương lai, nhất là những mặt hàng có giá trị cao nhưng dễ hỏng như trái cây, thủy sản, chăn nuôi sẽ tăng lên đáng kể. Các doanh nghiệp và người nông dân nên nắm bắt cơ hội này” - theo TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn. (Báo Lao động ngày 12/12)